Tin tức THT LAND

Mùa giáng sinh đang đến gần, bạn đã đọc thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh chưa ?

Mùa giáng sinh đang đến gần, bạn đã đọc thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh chưa ?
Mùa giáng sinh đang đến gần, bạn đã đọc thư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh chưa ?

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ của cách mạng Việt Nam và là nhà văn hoá lớn của thế giới. Trong cuộc đời hoạt động của mình, Người đã để lại hàng trăm bức thư gửi giới Công giáo, trong đó có nhiều thư chúc mừng Giáng sinh. Nhân mùa Noel năm 2010, cũng là kỷ niệm 65 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi lá thư Giáng sinh đầu tiên cho đồng bào Công giáo, chúng ta hãy cùng đọc lại những lá thư của Người.

             Nội dung các bức thư rất phong phú vừa thể hiện chính sách của Nhà nước với tôn giáo vừa thể hiện quan điểm nhân văn của vị lãnh tụ với đồng bào các tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng.

Lá thư chúc mừng Giáng sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lần đầu tiên vào ngày 23-12-1945, tức là chỉ sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời chưa đầy 4 tháng tuổi. Liên tiếp sau đó, suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp, không năm nào Người không có thư chúc mừng Giáng sinh. Thông lệ tốt đẹp này kéo dài đến tận năm 1956. Có năm như năm 1949, Người gửi tới đồng bào Công giáo 3 lá thư vì có sự kiện Pháp nhảy dù chiếm vùng “đất thánh Phát Diệm”. Chúng tôi có trong tay 15 lá thư chúc mừng Giáng sinh gửi đồng bào Công giáo của Hồ Chủ tịch, chưa kể một số bài báo viết dịp Giáng sinh với các bút danh khác. Ví dụ bài “Cùng chung một dịp Noen” với bút danh TL, đăng trên báo Nhân dân ngày 26-12-1966.

 

Là một người cộng sản, nhưng khác với nhiều người khác, Hồ Chủ tịch lại là nhà văn hoá lớn nên Người hiểu rõ giá trị nhân văn của các tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng. Vì thế, Hồ Chủ tịch kính trọng và đề cao những vị sáng lập ra các tôn giáo. Trong thư chúc mừng Giáng sinh năm 1945, Hồ Chủ tịch viết:

 

“Cách đây một nghìn chín trăm bốn mươi nhăm năm trước, cũng ngày hôm nay, một vị thánh nhân là Đức Giêsu đã ra đời.

 

Suốt đời Ngài chỉ hy sinh phấn đấu cho tự do, cho dân chủ.

 

Từ ngày Ngài Giáng sinh đến nay đã gần 2000 năm, nhưng tinh thần của Ngài chẳng những không phai nhạt mà toả ra đã khắp, thấm vào đã sâu” (1) .

 

Chúng ta còn có thể tìm được nhiều đoạn như vậy. Chẳng hạn, năm 1946, Người viết: “ Gần 20 thế kỷ trước, một vị thánh nhân đã ra đời. Cả đời Người chỉ lo cứu thế độ dân, hy sinh cho tự do, bình đẳng”(2). Còn trong thư mừng Giáng sinh năm 1947 cũng có đoạn: “Gần 2000 năm về trước, Đức Chúa đã cho loài người quyền tự do và dạy loài người lòng bác ái”(3). Đây không phải là lời nói xã giao bởi chúng ta từng đọc một tâm sự của tác giả những lá thư này khi “nguyện làm học trò nhỏ” của nhiều vĩ nhân trong đó có Đức Giêsu. Cách nhìn nhận đó thể hiện tầm vóc của một nhân cách lớn, một nhà văn hoá lớn và thể hiện rất rõ quan điểm biện chứng triết học khi xem xét các hiện tượng xã hội. Không giống với một số người vẫn cho mình là Mác xít nhưng lại cực đoan, thiếu biện chứng khi phê phán tôn giáo, họ muốn quăng đi tất cả giống như F. Angghen đã mô tả là đổ chậu nước bẩn nhưng vứt luôn cả em bé ngồi trong chậu. Chủ tịch Hồ Chí Minh không thế, Người biết chắt lọc, chọn ra những tinh tuý, nhân văn của các tôn giáo để phát huy những nhân tố tích cực nơi đồng bào có đạo, nhằm củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 

Sau khi thực dân Pháp bội ước, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, Người đã viết trong thư mừng Giángsinh năm 1946:

 

“ Trong lúc thực dân Pháp gây cuộc chiến tranh, chúng mong cướp nước ta lần nữa. Chúng làm trái hẳn lời bác ái của Đức Giêsu.

Toàn thể đồng bào ta không chia lương giáo, đoàn kết chặt chẽ, quyết lòng kháng chiến, để giữ gìn non sông Tổ quốc và cũng để giữ gìn tín ngưỡng tự do”(5).

 

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp toàn thắng miền Bắc được giải phóng nhưng miền Nam vẫn còn trong ách ngoại xâm, trong thư gửi đồng bào Công giáo nhân Giáng sinh năm 1955, Hồ Chủ tịch lại kêu gọi đồng bào Công giáo: “Tôi mong đồng bào Công giáo ta hết lòng hết sức cùng toàn dân kiên quyết đấu tranh cho nước nhà thống nhất, giữ vững hoà bình. Tôi mong đồng bào Công giáo cũng như mọi người dân yêu nước, ra sức góp phần xây dựng miền Bắc của ta vững mạnh, cố gắng thi đua sản xuất, làm cho nước mạnh dân giàu”(6).

 

Trong lúc bận bịu việc lãnh đạo cuộc kháng chiến gian khổ nhưng Hồ Chủ tịch không lúc nào không quan tâm đến tình hình tôn giáo nói chung và Công giáo nói riêng. Thực dân Pháp xâm hại nhà thờ, hãm hiếp nữ tu, Người lập tức lên tiếng tố cáo. Đồng bào Công giáo có thành tích tham gia vào công cuộc kháng chiến, Người khen ngợi kịp thời: “Tôi thành thật khen ngợi những đồng bào Công giáo đang hăng hái tham gia kháng chiến cứu nước. Tôi mong tất cả đồng bào Công giáo chúng ta đoàn kết chặt chẽ với đồng bào toàn quốc, kháng chiến mạnh hơn để tiêu diệt bọn xâm lược và bè lũ Việt gian bán nước, giải phóng Tổ quốc và làm sáng danh Đức Chúa”(7).

 

Chiến thắng Điện Biên Phủ làm chấn động địa cầu đem lại hoà bình cho đất nước ta và cũng là năm đầu tiên lễ Giáng sinh được tổ chức trong bầu khí hoà bình. Nhưng kẻ địch lại phao tin: Chúa vào Nam, làm hoang mang không ít tín đồ. Một số người đã bỏ quê hương để di cư và không ít đã gặp rất nhiều bi thảm trên đường đi và trong cuộc sống. Đứng trước tình hình đó Hồ Chủ tịch đã viết trong thư chúc mừng Giáng sinh năm 1954:

 

“Số phận của những giáo hữu ấy khiến tôi rất đau lòng và chắc đồng bào cũng thương xót. Tôi rất mong đồng bào cầu Chúa phù hộ những giáo hữu ấy đủ sức đấu tranh, đòi trở về quê cha đất tổ.

 

Nhân dịp này, tôi xin nhắc lại cho đồng bào rõ, Chính phủ ta thật thà tôn trọng tín ngưỡng tự do. Đối với những giáo hữu đã nhầm di cư vào Nam, Chính phủ đã ra lệnh cho địa phương giữ gìn cẩn thận ruộng vườn, tài sản của những đồng bào ấy và sẽ giao trả lại cho những người trở về”(8).

 

Không có tấm lòng của “người cha nhân hậu” trong Phúc âm không viết được những câu bao dung như vậy. Tấm lòng ấy đã được thể chế hoá thành chính sách, thành Sắc lệnh tôn giáo số 234/SL do chính tay Người ký ngày 14-6-1955. Tình cảm chân thành đó, chính sách tôn giáo đúng đắn đó đã lôi cuốn được nhiều linh mục, tu sĩ, giáo dân bỏ vùng địch hậu ra chiến khu theo kháng chiến và cũng có những người hy sinh anh dũng được truy tặng là liệt sĩ như linh mục Nguyễn Bá Luật, luật sư Thái Văn Lung…

 

Sở dĩ đồng bào Công giáo tin và yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh vì Người rất hiểu đạo Công giáo, không bao giờ xúc phạm đến đức tin tôn giáo của họ. Người nói với giáo dân bằng ngôn ngữ “con nhà đạo”. Trong thư gửi bác sĩ Vũ Đình Tụng- Bộ Trưởng Bộ y tế và cũng là người Công giáo có con trai hy sinh, Hồ Chủ tịch viết:

 

“ Tôi được báo cáo rằng: con giai ngài đã oanh liệt hy sinh cho Tổ quốc.

 

Ngài biết rằng, tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột…

 

Họ là con thảo của Đức Chúa, họ đã thực hiện cái khẩu hiệu: Thượng đế và Tổ quốc. Những thanh niên đó là dân tộc anh hùng. Đồng bào và Tổ quốc sẽ không bao giờ quên ơn họ.

 

Ngài đã đem món quà quý báu nhất là con của mình, sẵn sàng hiến dâng cho Tổ quốc. Từ đây chắc ngài sẽ thêm ra sức giúp việc kháng chiến để bảo vệ nước nhà thì linh hồn cháu ở trên trời cũng bằng lòng sung sướng” (9).

 

Người hiểu biết nhiều về Kinh thánh và điển tích Công giáo nên khi trích dẫn luôn phù hợp với ngữ cảnh. Chẳng hạn, trong cải cách ruộng đất cũng có nơi này, việc nọ sai lầm và chính Hồ Chủ tịch đã khóc khi xin lỗi quốc dân về vụ này trước Quốc hội. Trong thư chúc Giáng sinh năm 1956, Hồ Chủ tịch viết: “Tôi tỏ lòng khen ngợi các giáo sĩ và đồng bào đã thân ái giúp cán bộ sửa chữa sai lầm, thực hiện đúng chính sách tôn trọng tự do tín ngưỡng của Chính phủ, như thế là làm theo lời dạy của Chúa Kitô: Hỡi anh em, khi có mắc sai lầm, anh em hãy dịu dàng giúp anh em ấy sửa chữa” (10).

 

Chúng ta vẫn hay nói tới tài tiên đoán của Hồ Chủ tịch. Người viết trong Di chúc rằng, đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn. Điều này đã thành sự thật. Còn vấn đề tôn giáo thì sao? Đọc thư chúc mừng Giáng sinh năm 1945, chúng ta cũng rất ngạc nhiên vì lời tiên đoán cách đây 65 năm:

 

“Tôi chắc rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của các vị giám mục Việt Nam, đồng bào Công giáo kiên quyết một lòng với nhân dân toàn quốc để giữ vững nền tự do, độc lập đó” (11).

 

Chúng ta đều biết, năm 1945 ở Việt Nam chỉ có 5 giám mục người Việt nằm dưới sự điều hành của hàng giáo sĩ nước ngoài. Mãi đến năm 1960, hàng giáo phẩm Việt Nam mới được thiết lập nhưng phải chờ sau khi nước nhà thống nhất, năm 1980 các giám mục Việt Nam mới tổ chức đại hội đầu tiên vạch ra đường hướng đúng đắn cho giáo hội Công giáo Việt Nam là “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.

 

Còn trong thư chúc mừng Giáng sinh năm 1948, Hồ Chủ tịch viết: “Hôm nay đồng bào lễ Chúa trong bầu không khí chiến tranh và giặc Pháp đang còn giày xéo trên đất nước ta. Song rồi đây, thắng lợi sẽ cho chúng ta lễ Chúa long trọng hơn, trong một bầu không khí vui vẻ và tươi sáng của một nước hoàn toàn thống nhất và độc lập” (12). Bây giờ điều này cũng đã thành sự thật.

 

Để tập hợp đồng bào Công giáo đứng về phía cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khéo léo đề nghị những công việc mà người có đạo dễ làm, không trái giáo lý của đạo. Ví dụ, nhiều lần, Người kêu gọi đồng bào Công giáo cầu nguyện cho các liệt sĩ, cho đồng bào bị chết trong chiến tranh hay cầu nguyện cho cuộc kháng chiến thắng lợi…Thư gửi đồng bào Công giáo lễ Giáng sinh năm 1947 viết: “Trong cuộc kháng chiến, nhiều đồng bào Công giáo đã hăng hái hy sinh. Tôi đề nghị toàn thể đồng bào Công giáo trong kỳ lễ Noel này cầu nguyện cho linh hồn các chiến sĩ giáo và lương đã bỏ mình vì nước và cầu nguyện cho Tổ quốc ta được thắng lợi” (13). Từ đó, dần dần lôi cuốn người Công giáo vào phong trào “Mùa đông binh sĩ” và nhiều phong trào giúp đỡ thương bệnh binh, chiến sĩ ngoài mặt trận khác.

 

Hồ Chủ tịch không chỉ quan tâm đến đồng bào Công giáo trong nước mà cả người Công giáo ở nước ngoài. Năm 1949, Người gửi thư cho nhân dân Pháp nhân lễ Noel và đón năm mới. Đây không chỉ là hoạt động ngoại giao thuần tuý mà còn tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân Pháp với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Thư viết:

 

“Hỡi các bạn nhân dân Pháp!

 

Chúng tôi biết rằng, các bạn không tán thành cuộc chiến tranh phi nghĩa này và các bạn thiết tha mong đợi hoà bình.

 

Chúng tôi cũng muốn hoà bình.

 

Vậy chúng ta hãy hợp sức lại” (14).

 

Ngay các tù binh Pháp, ngày Noel về, Người cũng không quên họ. Hồ Chủ tịch thấy rõ họ cũng chỉ là nạn nhân của chế độ thực dân. Người viết: “Các bạn cũng như chúng tôi, đều là nạn nhân của bọn thực dân Pháp. Bọn này vì quyền lợi ích kỷ riêng của họ, chỉ muốn đi chinh phục nước người khác. Tôi mong một ngày rất gần đây, hai dân tộc Pháp-Việt có thể cùng cộng tác trong vòng hoà bình và thân ái để mưu hạnh phúc cho hai dân tộc” (15). Gọi tù binh là bạn. Nói với tù binh về tương lai của hai nước đang có chiến tranh với nhau quả là con người có tấm lòng bao dung, nhân hậu biết bao.

 

Hồ Chủ tịch có một quan điểm được xác lập rất sớm là Tổ quốc độc lập, tôn giáo mới có tự do. Người viết: “Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do” (16). Có thể có người cho đó là làm chính trị chứ độc lập dân tộc và tự do tôn giáo có gì dính líu đến nhau? Song trên thực tế đó lại là mối quan hệ tất yếu. Chính lịch sử Việt Nam đã chứng minh như vậy. Trên đất nước ta trong những năm qua đã có hàng ngàn cơ sở thờ tự Công giáo được sửa chữa xây mới, hàng ngàn linh mục được phong chức. Chỉ tính riêng từ năm 1975 đến nay đã có 5 Hồng y người Việt và 63 giám mục được tấn phong. Số linh mục trong cả nước là 3600 vị. Trong khi đó trước đây, sau 400 năm truyền giáo Việt Nam mới có 1 vị giám mục người Việt đầu tiên. Suốt gần một thế kỷ (1863-1945) chỉ có 153 vị được truyền chức linh mục. Do đó người có đạo cũng có chung mục tiêu của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc với đồng bào cả nước. Đây chính là những mẫu số chung, những điểm tương đồng mà Đảng và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn hướng tới để tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc suốt 80 năm qua.

 

Mỗi dịp Noel về, đọc lại những lá thư chúc mừng Giáng sinh của Hồ Chủ tịch, người Công giáo càng thấy vững tin vào con đường mà Sứ điệp Đại hội Dân Chúa 2010 đã chỉ ra theo giáo huấn của Đức Benedicto XVI là: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em phải chứng tỏ rằng người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt” (số 4).  

 

Tin mới
TƯ VẤN BẤT ĐỘNG SẢN
CHÚNG TÔI TRÊN FACEBOOK

THT Đại Mỗ
THT Yên Nghĩa
^ Về đầu trang